Hỏi đáp về Khoa Chăm sóc Hô hấp
Câu 1: Mặt nạ phòng độc là gì?
Máy thở là một thiết bị hỗ trợ bệnh nhân thở khi bệnh nhân bị suy hô hấp.
Mặt nạ phòng độc gồm ba phần: phần thở, phần theo dõi và phần báo động.
Câu 2: Tại sao cần mặt nạ phòng độc? Ai cần mặt nạ phòng độc?
Mục đích của việc sử dụng máy thở là để giải quyết các vấn đề như khó thở, thở yếu, ngừng thở hoặc thiếu oxy ở bệnh nhân.
Các bệnh nhân sau đây dễ bị suy hô hấp và cần máy thở:
viêm phổi
Bệnh hen suyễn
Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
Suy tim
hôn mê
đột quỵ
phẫu thuật gây mê toàn thân
Câu 3: Nên sử dụng mặt nạ phòng độc trong bao lâu?
Không có câu trả lời chuẩn cho việc sử dụng máy thở trong bao lâu. Thời gian sử dụng máy thở thay đổi tùy thuộc vào từng bệnh nhân, ngay cả khi mắc cùng một bệnh. Do mức độ nghiêm trọng của bệnh, đặc điểm tính cách cá nhân, các yếu tố tâm lý và nhiều yếu tố ảnh hưởng khác, thời gian sử dụng máy thở thường ngắn hơn. Nếu bệnh nhân được hỗ trợ thở máy do ngộ độc thuốc, cơn hen suyễn nặng hoặc các tình trạng tương tự, có thể ngừng sử dụng máy thở khi tình trạng được cải thiện hoặc khỏi hẳn. Trong những trường hợp như vậy, thời gian sử dụng máy thở thường ngắn hơn. Tuy nhiên, nếu tình trạng viêm dẫn đến suy các cơ quan quan trọng hoặc gây tổn thương không thể phục hồi, thời gian sử dụng máy thở sẽ dài hơn. Nếu chức năng thể chất hoặc tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân kém hơn bình thường trước khi mắc bệnh, thời gian sử dụng máy thở cũng sẽ dài hơn so với người bình thường.
Khi bệnh nhân sử dụng máy thở trong hơn 21 ngày, cần phải xem xét các vấn đề liên quan đến việc sử dụng máy thở lâu dài, vì có nhiều lý do khiến bệnh nhân phải sử dụng máy thở trong thời gian dài.
Chúng chủ yếu được chia thành ba loại:
1. Nhóm thứ nhất: Các bệnh tim phổi, chẳng hạn như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh suy tim sung huyết mãn tính và bệnh động mạch vành.
2. Loại thứ hai: suy đa tạng do các vấn đề nội khoa hoặc phẫu thuật.
3. Nhóm thứ ba: các bệnh lý thần kinh cơ, bao gồm hội chứng bại liệt, tổn thương tủy sống, teo cơ, xơ cứng teo cơ một bên (ALS), đa xơ cứng, liệt cơ hoành hai bên và rối loạn hô hấp trung ương. Các bệnh lý thần kinh cơ chủ yếu là các bệnh tiến triển hoặc gây tổn thương không thể hồi phục. Khi bệnh tiến triển đến giai đoạn cuối, thường dẫn đến suy hô hấp. Khi bệnh nhân không thể tự thở, họ sẽ cần phải dựa vào máy thở suốt đời.
Thường rất khó dự đoán chính xác thời gian sử dụng máy thở, nhưng điều quan trọng là bệnh nhân có nhận được sự chăm sóc và hỗ trợ tốt về thể chất, tâm lý và xã hội trong suốt thời gian sử dụng máy thở hay không, để họ có thể hòa nhập lại xã hội sau khi cai máy thở. Đối với những bệnh nhân và gia đình không thể cai máy thở, họ cũng có thể thích nghi với cuộc sống sử dụng máy thở lâu dài với sự hỗ trợ của một hệ thống y tế tốt.
Câu 4: Trong những trường hợp nào thì người bệnh có thể được cai máy thở?
Cần xem xét chín yếu tố sau đây khi cai máy thở:
1. Nguyên nhân khiến bệnh nhân phải thở máy chỉ nên được xem xét khi muốn cai thở máy nếu nguyên nhân ảnh hưởng đến hô hấp đã được loại bỏ hoặc cải thiện.
2. Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân đã trở lại như trước khi sử dụng máy thở.
3. Thời gian kéo dài của giai đoạn nguy kịch của bệnh.
4. Tình trạng sử dụng oxy của các mô trong cơ thể cho quá trình trao đổi chất.
5. Gánh nặng hô hấp và dung tích hô hấp.
6. Chức năng tim mạch.
7. Chức năng của các cơ quan khác trong cơ thể.
8. Thời gian sử dụng máy thở càng lâu, khả năng cai thở máy càng thấp.
9. Các yếu tố tâm lý: Một số bệnh nhân coi máy thở như một phần mở rộng của cơ thể họ, và họ cần vượt qua những rào cản tâm lý trước khi cai máy thở.
Điều kiện tiên quyết để cai máy thở là bệnh nhân phải có khả năng tự thở trước khi có thể xem xét việc cai máy thở.
Khi bệnh nhân đã vượt qua giai đoạn cấp tính và chức năng của tất cả các cơ quan đã trở lại bình thường, và bệnh nhân có thể tự thở, bác sĩ và kỹ thuật viên hô hấp sẽ điều chỉnh máy thở theo tình trạng của bệnh nhân, giảm tỷ lệ hỗ trợ của máy thở và tăng tỷ lệ tự thở của bệnh nhân, để bệnh nhân có thể dần thích nghi với việc tự thở trong chế độ hỗ trợ máy thở. Cai máy thở là một quá trình dần dần. Chỉ sau khi vượt qua bài kiểm tra chức năng hô hấp và kết quả kiểm tra tốt thì mới có thể xem xét cai máy thở.
Có nhiều phương pháp cai máy thở. Thông thường, quá trình huấn luyện được thực hiện vào ban ngày và bệnh nhân nghỉ ngơi vào ban đêm. Thời gian huấn luyện phải được điều chỉnh tùy theo tình trạng của bệnh nhân. Số ngày huấn luyện cai máy thở phụ thuộc vào phản ứng của bệnh nhân. Nói chung, những bệnh nhân đã thất bại nhiều lần trong việc cai máy thở sẽ cần thời gian huấn luyện dài hơn.
Thời điểm cai máy thở rất quan trọng; cai quá sớm hoặc quá muộn đều có thể ảnh hưởng tiêu cực đến bệnh nhân. Cai quá sớm có thể gây tổn thương nghiêm trọng đến hệ tim mạch và hô hấp, làm chậm quá trình hồi phục. Chấn thương do cai máy thở sớm cũng tạo ra gánh nặng tâm lý lớn cho bệnh nhân và gia đình; càng nhiều thất bại, gánh nặng càng lớn và việc cai máy thở càng khó khăn hơn. Ngược lại, cai quá muộn làm tăng nguy cơ biến chứng liên quan đến máy thở, chẳng hạn như viêm phổi mắc phải trong bệnh viện, nhồi máu cơ tim và tử vong, làm tăng gánh nặng cho bệnh nhân, gia đình và tổng chi phí chăm sóc sức khỏe và xã hội.
Khi bệnh nhân không thể cai máy thở sau nhiều lần thử không thành công hoặc khi bệnh tình trở nặng và bệnh nhân không thể cai máy thở, bệnh nhân và gia đình phải đối mặt với thực tế rằng họ sẽ cần sử dụng máy thở suốt đời, điều chỉnh tâm lý và với sự giúp đỡ của nhân viên y tế, thích nghi với những bất tiện khác nhau do việc sử dụng máy thở lâu dài gây ra, và giảm thiểu sự khó chịu cho bệnh nhân.
Câu 5: Trong những trường hợp nào thì cần phải mở khí quản cho bệnh nhân đang sử dụng máy thở?
1. Ưu điểm và nhược điểm của việc đặt ống nội khí quản kéo dài và mở khí quản
Bệnh nhân suy hô hấp được đặt nội khí quản và nối với máy thở để hỗ trợ hô hấp. Đường thở nhân tạo phải đi qua thanh quản và thanh môn vào khí quản. Tắc nghẽn đường thở ở thanh quản thường gây khó chịu và mất giọng. Đặt nội khí quản kéo dài có thể dẫn đến các biến chứng sau: đau mũi và viêm xoang có thể xảy ra khi đặt nội khí quản qua đường mũi; loét môi, u hạt thanh quản, tổn thương dây thanh âm hoặc nhuyễn khí quản do áp lực quá lớn từ ống nội khí quản; và khó nuốt. Nhược điểm của việc đặt nội khí quản lâu dài bao gồm khó nuốt, khó làm sạch dịch tiết miệng, khó giữ vệ sinh răng miệng, hôi miệng thường xuyên và bệnh nhân có xu hướng cắn ống, dẫn đến tắc nghẽn đường thở hoặc báo động của máy thở. Dựa trên những nhược điểm đã nêu, nên xem xét thay thế ống nội khí quản bằng ống mở khí quản. Thay thế ống nội khí quản bằng ống mở khí quản không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên y tế mà còn giảm tỷ lệ bệnh nhân tự rút ống nội khí quản. Sau quá trình huấn luyện và điều chỉnh, bệnh nhân sử dụng máy thở có thể nuốt, ăn và thậm chí nói chuyện đồng bộ với nhịp thở của máy thở, cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người sử dụng máy thở lâu dài.
2. Thời điểm thực hiện mở khí quản
Trong vòng bảy ngày sau khi đặt nội khí quản, phẫu thuật mở khí quản thường không được xem xét trừ khi có bất thường về hô hấp hoặc cần phẫu thuật. Thời điểm phẫu thuật mở khí quản không chỉ được xác định bởi thời điểm đặt nội khí quản mà còn bởi nhiều yếu tố khác, chẳng hạn như: tắc nghẽn đường thở trên, cần phẫu thuật đầu, cổ hoặc ngực, hôn mê hoặc liệt chi cần nằm nghỉ lâu dài, không thể tự khạc đờm và khả năng viêm phổi do hít sặc. Các yếu tố quyết định quan trọng nhất là không thể tự khạc đờm và cần phụ thuộc vào máy thở lâu dài. Khi tình trạng bệnh nhân tiến triển đến mức cần phải phụ thuộc vào máy thở trong thời gian dài hoặc sau nhiều lần thất bại trong việc cai máy thở, thường là khoảng ba tuần hoặc hơn sau khi đặt nội khí quản, bác sĩ sẽ đề nghị bệnh nhân và gia đình xem xét phẫu thuật mở khí quản. Sau khi trao đổi và giải thích, bệnh nhân hoặc gia đình sẽ ký vào mẫu đơn đồng ý và chọn thời điểm khi tình trạng bệnh nhân ổn định và không sốt, cho phép thực hiện phẫu thuật mở khí quản dưới gây mê toàn thân.
Câu 6: Việc sử dụng máy thở trong thời gian dài có thể dẫn đến những biến chứng nào?
Trong điều kiện sử dụng bình thường, máy thở sẽ không gây hại. Tuy nhiên, cần lưu ý một số biến chứng thường gặp, bao gồm:
Phù thanh quản, tổn thương niêm mạc khí quản.
Nếu ống dẫn khí bị lỏng hoặc rò rỉ, nó có thể gây khó thở hoặc thậm chí ngừng thở.
Áp suất quá cao có thể gây tổn thương do áp lực lên phế nang, dẫn đến tràn khí dưới da hoặc tràn khí màng phổi.
Nồng độ oxy quá cao có thể gây ngộ độc oxy.
Máy thở đã gây ra bệnh viêm phổi.
Câu 7: Trong trường hợp nào bệnh nhân đang sử dụng máy thở cần được nhập viện vào đơn vị chăm sóc tích cực?
Không phải tất cả bệnh nhân thở máy đều cần nhập viện vào đơn vị chăm sóc tích cực (ICU). Chỉ những bệnh nhân thở máy có dấu hiệu sinh tồn không ổn định do các tình trạng sau đây, cần theo dõi sát sao và chăm sóc tích cực, mới cần nhập viện vào ICU, ví dụ:
1. Bệnh nhân bị suy hô hấp cấp tính, khó thở, ngừng thở từng đợt hoặc ngạt thở nặng cần điều trị hô hấp tích cực.
2. Bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp tính, đau thắt ngực không ổn định hoặc đau thắt ngực.
3. Bệnh nhân bị suy tim cấp tính, suy thận cấp tính hoặc suy gan cấp tính.
4. Bệnh nhân vẫn cần điều trị bổ trợ sau phẫu thuật hoặc có các chỉ số sinh tồn không ổn định.
5. Bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim đe dọa tính mạng (bao gồm cả những trường hợp sau ngừng tim).
6. Bệnh nhân trong tình trạng sốc.
7. Bệnh nhân có rối loạn chuyển hóa và điện giải/nước nghiêm trọng hoặc bất thường về nội tiết cần được theo dõi chặt chẽ.
8. Bệnh nhân hôn mê do ngộ độc cấp tính.
9. Bệnh nhân hôn mê gan do xơ gan.
10. Bệnh nhân cần chăm sóc y tế tăng cường sau phẫu thuật lồng ngực, phẫu thuật tim và phẫu thuật thần kinh.
11. Bệnh nhân trong giai đoạn cấp tính của bệnh não như đột quỵ, viêm màng não hoặc viêm não, đồng thời bị suy giảm ý thức hoặc hôn mê.
12. Bệnh nhân mắc chứng động kinh nặng.
13. Bệnh nhân có nguy cơ tử vong do tăng áp lực nội sọ cấp tính.
14. Bệnh nhân bị tổn thương thân não cấp tính.
15. Bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết hoặc nghi ngờ nhiễm trùng huyết và có các dấu hiệu sinh tồn không ổn định.
16. Trẻ sơ sinh bị vàng da nặng cần truyền máu.
17. Trẻ sơ sinh cực non tháng với cân nặng khi sinh dưới 1500 gram.
18. Các bệnh nhân khác đang trong tình trạng nguy kịch, có dấu hiệu sinh tồn không ổn định.
Câu 8: Trong trường hợp nào tôi cần được chuyển đến trung tâm chăm sóc hô hấp? Hậu quả là gì nếu tôi không được chuyển viện?
◎ Bệnh nhân mắc bất kỳ tình trạng nào sau đây cần được chuyển đến trung tâm chăm sóc hô hấp:
(a) Máy thở đã được sử dụng hơn 14 ngày.
(ii) Tất cả các hệ cơ quan, tình trạng oxy hóa hoặc vết thương phẫu thuật đều ổn định.
(iii) Phải được chuyển đến trung tâm chăm sóc hô hấp để được đào tạo về chăm sóc hô hấp tại nhà.
(iv) Bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đang thở máy và bác sĩ điều trị đã xác định rằng họ không nên tiếp tục điều trị tích cực nữa.
(v) Bệnh nhân mắc các bệnh thoái hóa cơ và thần kinh và những người bị chấn thương đầu và cổ đang sử dụng máy thở và được bác sĩ phụ trách trung tâm chăm sóc hô hấp đánh giá là phù hợp để điều trị tại trung tâm chăm sóc hô hấp.
◎ Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi không chuyển đổi?
(i) Vì bệnh nhân sử dụng máy thở trong thời gian dài có hệ miễn dịch kém, và phòng chăm sóc đặc biệt lại đầy bệnh nhân có tỷ lệ nhiễm trùng cao, mức độ nghiêm trọng cao và cần nhiều thiết bị theo dõi, nên bệnh nhân nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt không chỉ dễ bị nhiễm trùng mà tiếng ồn phát ra từ nhiều thiết bị theo dõi và bầu không khí căng thẳng trong phòng chăm sóc đặc biệt sẽ cản trở bệnh nhân thư giãn và hồi phục cả về thể chất lẫn tinh thần. Đồng thời, giường bệnh trong phòng chăm sóc đặc biệt không thể được sử dụng hiệu quả, và những bệnh nhân khác cần chăm sóc đặc biệt có thể mất cơ hội được cứu sống vì không được nhập viện.
(ii) Tuy nhiên, nếu bệnh nhân gặp phải bất kỳ tình trạng nào sau đây, họ phải được chuyển trở lại đơn vị chăm sóc đặc biệt:
Sốc (tình trạng huyết động không ổn định nghiêm trọng)
Nhồi máu cơ tim cấp tính (AMI)
Các thủ thuật phẫu thuật lớn khác
Câu 9: Trong trường hợp nào bệnh nhân cần được chuyển đến khoa chăm sóc hô hấp?
Những bệnh nhân đã nằm viện hơn 42 ngày tại trung tâm chăm sóc hô hấp, hoặc thở máy liên tục hơn 63 ngày, hoặc theo đánh giá của bác sĩ chuyên khoa phổi, không thể cai thở máy trong thời gian ngắn, cần được chuyển đến khoa chăm sóc hô hấp, chẳng hạn như:
Bệnh nhân cần sử dụng máy thở trong thời gian dài hoặc phụ thuộc vào máy thở.
Bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đang thở máy và không còn được điều trị tích cực.
Những bệnh nhân không thể cai máy thở do các tình trạng như ổn định vết thương sau phẫu thuật, chấn thương cấp tính, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, rối loạn cơ xương khớp hoặc chấn thương tủy sống.
Những người không bị nhiễm trùng nghiêm trọng và không còn cần dùng kháng sinh đường tĩnh mạch.